18:35 ICT Thứ hai, 25/09/2017

Nghiên cứu khoa học

Trang nhất » Học liệu » Lịch sử - văn hóa Việt Nam

Đông-Đoài-Nam-Bắc - vùng văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ

Thứ bảy - 22/07/2017 09:03
Lễ chùa Hương

Lễ chùa Hương

Giữa lòng miền đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của nền văn minh sông Hồng, nền văn hóa Việt cổ , có vùng văn hóa Thăng Long-Hà Nội , và chung quanh bốn phương tám hướng có bốn vùng văn hóa Đông Đoài Nam Bắc đã làm nên đại vùng văn hóa Bắc Bộ Việt Nam ngàn năm.
Bốn vùng văn hóa : bốn xứ Đông-Đoài-Nam-Bắc
Giữa lòng miền đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của nền văn minh sông Hồng, nền văn hóa Việt cổ , có vùng văn hóa Thăng Long-Hà Nội , và chung quanh bốn phương tám hướng có bốn vùng văn hóa Đông Đoài Nam Bắc  đã làm nên đại vùng văn hóa Bắc Bộ Việt Nam ngàn năm.

Người Thăng Long xưa tự hào mình là người Kẻ Chợ  và gọi những kẻ từ khắp nơi khắp chốn đến với kinh đô, là dân tứ xứ  ( Đông Đoài Nam Bắc  ) hay dân tứ trấn (Hải Đông, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc) hay dân tứ chiếng (chữ "chiếng" đọc trại từ chữ trấn  mà ra) với sắc thái xem thường (nhiều hay ít) : "trai tứ chiếng, gái giang hồ".

Rời Thăng Long, đi theo hướng tây-đông rồi nam-bắc, chúng ta sẽ lần lượt làm quen với bốn vùng văn hóa gọi theo người xưa là : xứ Đoài , vùng đất của các tỉnh trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc và tỉnh đồng bằng Hà Tây ngày nay ; xứ Đông, vùng đất của các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, lên một chút là Hải Phòng, xuống một chút là Thái Bình ; xứ Nam là vùng đất của Hà Nam, Nam Định, xuống một chút là Ninh Bình ; và xứ Bắc, vùng đất của Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay.

 Xứ Đoài có Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía bắc, Hà Tây ở phía nam, tiếp giáp Thăng Long - Hà Nội. Phú Thọ - Vĩnh Phúc là đất trung du, nơi gặp gỡ của ba dòng sông lớn : Hồng, Lô, Đà, nơi có kinh đô Phong Châu của vua tổ Hùng Vương, nơi người Việt cổ tổ tiên ta, con cháu rồng Lạc tiên Âu, đã dựng nước Văn Lang rồi Âu Lạc, đã sáng tạo nên những trống đồng, thạp đồng to đẹp, tượng trưng cho một văn hóa Đông Sơn hay văn hóa Lạc Việt, hay văn minh sông Hồng cách nay trên dưới ba ngàn năm.
Từ lâu dân ta vẫn luôn tâm niệm :

"Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba".

"Tổ" ấy là các vua Hùng và hội đền Hùng từ xưa đến nay vẫn là một lễ hội lớn của cả dân tộc. Tại xã Hy Cương (huyện Phong Châu, Phú Thọ), đền Hùng là một quần thể kiến trúc hoành tráng gồm nhiều đền đài và di tích, mỗi năm tiếp đón hàng chục vãn khách hành hương giỗ tổ. Bên cạnh lăng vua Hùng có giếng ngọc, nơi các công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung đã từng soi bóng; có cột Đá Thề, tương truyền vua Thục đã dựng để thề nguyền gìn giữ cơ nghiệp Hùng Vương.

Trong ngày hội đền trên núi Nghĩa Lĩnh có nghi lễ rước voi với ý nghĩa muôn loài qui phục vua Hùng, có người Mường và người Việt cùng đánh trống đồng, cồng chiêng, cùng rước cỗ (bánh dầy, bánh chưng, xôi nhiều màu), rước kiệu bay, đua thuyền rồng trên hồ Đa Vai dưới chân núi... Tất cả để tỏ lòng biết ơn vua Tổ đã dựng nước, thương dân, dạy dân trồng lúa, tắm chung với dân trên các bến sông Hồng Lô Đà ( Bạch Hạc, Việt Trì ) một địa chỉ quen thuộc của các nhà khảo cổ học Việt Nam hôm qua và ngày nay.

Người Việt nào muốn nghe những điệu dân ca, những điệu múa cổ nhất, xin mời đến một số làng ở Phú Thọ gặp những nhóm gái trai đã kết nghĩa với nhau để hát ghẹo trong ngày hội xuân. Họ hát những bài rất trữ tình, và hai bên gọi nhau là quan anh, quan chị, tự mình xưng là em, cho nên hát ghẹo Phú Thọ còn có tên là hát Anh Chị. Cũng có thể làm quen với những phường Xoan (ở các làng Thét, Phù Đức, Kim Đới, An Thái của huyện Phong Châu để thưởng thức các điệu hát Xoan, múa Xoan, của các họ Xoan biểu diễn tại nhiều đình làng từ mùng 5 tết đến hết mùng 10 tháng 4 lịch âm. Mỗi cuộc hát Xoan gồm ba chặng : lề lối, quả cách và bỏ bộ. Hát và múa đều tuân theo trình tự nghiêm ngặt và phong cách cổ kính.

Rời tiểu vùng văn hóa đất tổ Phú Thọ-Vĩnh Phúc đi về hướng nam sẽ gặp tiểu vùng văn hóa Hà Tây của xứ Đoài (trấn Sơn Tây xưa). Tỉnh lỵ của Hà Tây, thị xã Hà Đông chỉ cách Hà Nội 11 km. Hà Tây có hai núi : Tam Đảo, Ba Vì (còn gọi là Tản Viên) cao 1.280 mét, quê hương của Sơn Tinh mà dân địa phương cung kính gọi là thánh Tản, hay Tản Viên sơn thánh được thờ ở nhiều đình, đền, miếu.

Hà Tây có bốn sông : Hồng, Đà, Đáy, Nhuệ. Đây là quê hương của nhiều anh hùng, danh nhân, từ Hai Bà Trưng, Phùng Hưng đến Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, nơi có nhiều làng nghềnổi tiếng : gấm và lụa vân Vạn Phúc, lụa, the, lĩnh La Khê, tiện gỗ Nhị Khê, thợ nề thợ mộc làng Chàng. Bên cạnh nhiều đền thờ anh hùng, danh nhân là những ngôi chùa danh bất hư truyền : Đậu, Mía, Thầy, Hương Tích, Tây Phương... đã cùng với những ngôi đình cổ kính nhất của các thế kỷ 16, 17 : Chu Quyến (đình Chàng), Tây Đằng, Yên Sở, Sơn Lộ, Hạ Hiệp... đã đi vào lịch sử văn hóa nghệ thuật Việt Nam.

Về âm nhạc dân gian, Hà Tây nổi tiếng với hai loại dân ca nghi lễ : hát Rô (Dô) và hát Chèo Tàu, thịnh hành cách nay nhiều thế kỷ. Hát Rô ở xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai gồm 22 bài được hát lên để tôn vinh thánh Tản, trong đó có 10 bài vừa hát vừa múa, gọi là hát bỏ bộ.Sôi nổi hơn nữa là hội hát Chèo Tàu ở bốn thôn của xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, gắn với tục sùng bái và thờ cúng Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử. Đây là một tập hợp nhiều diễn xướng , nghi lễ, điệu hát và điệu múa trình bày trên các sân khấu mô phỏng hình thuyền ( tàu ) và voi ( tượng ) thu hút đông đảo khán thính giả xứ Đoài, Thăng Long và các xứ khác.

Trong hàng chục lễ hội của Hà Tây, hội Chùa Hương là vô địch về thời gian mở hội (từ rằm tháng giêng đến hết tháng ba) cũng như về số lượng khách hành hương vãn cảnh (nhiều chục vạn nam phụ lão ấu) . Nếu khách du có sức khoẻ , nhiệt tình hay đức tin thì có thể dự hội nhiều ngày , qua nhiều lộ trình đồi suối dài nhiều kilômét giữa một tắng cảnh tuyệt vời từ bến Đục qua suối Yến để đến với hơn một chục đền chùa hang động mà điểm đỉnh là động Hương Tích " Nam thiên đệ nhất động " mịt mù hương khói. Khắp nơi vang lên tiếng chào " nam mô a di đà Phật " thành kính và nhân hậu, thỉnh thoảng bị phá bỉnh bởi những tiếng tán thán lạc đề " nam mô chao ôi là đẹp " hay " nam mô chao ôi là mệt " của tuổi trẻ nghịch ngợm trêu nhau nhưng rồi tuổi già cũng sẵn sàng mỉm cười bỏ qua.

Chùa Hương với dòng nước xanh xiết bao êm đềm
Con thuyền đưa tôi tới nơi thần tiên"...
 


Xứ Đông có hạt nhân là trấn Hải Đông xưa, nhưng bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở phía đông Thăng Long, đó là phần đất bắt đầu từ Hưng Yên-Hải Dương, ngược lên phía bắc đến Hải Phòng, Quảng Ninh, xuôi về phía nam đến tận Thái Bình. Đây là quê hương của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Lê Quí Đôn... với nhiều di tích thắng cảnh : lăng vua Trần, đền Chử Đồng, Phố Hiến, đền Kiếp Bạc thờ đức thánh Trần, Côn Sơn mang kỷ niệm bất diệt của Nguyễn Trãi...

Xứ Đông cũng có nhiều sông, hồi, đầm: các sông Hồng, Thái Bình , Kinh Thầy, hồ Nhân Huệ, đầm Dạ Trạch ...  Đặc sản xứ Đông được cả nước hâm mộ là nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, gà Đống Cao, táo Gia Lộc, bánh đậu xanh Hải Dương...

Nói đến xứ Đông, trước hết phải nhắc đến Phố Hiến vang bóng một thời như dân ta đã ca ngợi : "nhất Kinh Kỳ, nhì Phố Hiến", từng là một đô thị thương nghiệp quan trọng của Đại Việt của các thế kỷ 17, 18 ở Đàng Ngoài. Nằm bên bờ sông của thị xã Hưng Yên, Phố Hiến đã dung nạp nhiều thương điếm của Hà Lan (từ 1637), Anh (từ 1673), Pháp (từ 1680), v.v. Bên cạnh các thương điếm của Trung Quốc, Nhật Bản đã có mặt từ thế kỷ 16. Từ Phố Hiến, thương nhân Đại Việt đã xuất khẩu ra nhiều nước Á-Âu những mặt hàng có giá trị : quế, sa nhân, xạ hương, lưu huỳnh, thiếc, đồ sành sứ (Bát Tràng, Chu Đậu), đồ sơn, đường, gạo, vải, nhãn, cau, hồ tiêu... cùng một số mặt hàng quí hiếm như bông vải, lụa, đũi, sa...

Phố Hiến có 20 phố phường vừa sản xuất vừa buôn bán như Hàng Cau, Hàng Cá, Hàng Da, Hàng Nón Hoa, Hàng Nhuộm, Hàng Sũ... Phố Hiến còn nổi tiếng với đình Hiến Nam, chợ quốc tế Vạn Lai Triều. Cảnh quan buôn bán tại đây cũng tấp nập như Hội An xứ Đàng Trong cùng thời, nhưng với thời gian Phố Hiến dần dần bị sa sút và đã suy tàn vào cuối thế kỷ 18.

Về ca nhạc dân gian, hát đúm là một sinh hoạt dân ca có ở nhiều vùng của đồng bằng Bắc Bộ nhưng độc đáo nhất và nổi tiếng là hát đúm Thủy Nguyên của vùng Hải Phòng. Đây là tiếng hát của những cô thợ dệt, những bà mẹ quay xa do cảm hứng trong khi vừa dệt vải kéo sợi vừa nghe tiếng xa quay sè sè, tiếng ống suốt ro ro, tiếng thoi đưa lách cách mà bật lên tiếng hát.

Hội chọi trâu Đồ Sơn được tổ chức hàng năm như nhân dân vùng Hải Phòng và xứ Đông từng tâm niệm :

"Dù ai buôn đâu bán đâu
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về"

Ba làng Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên gồm 14 thôn, mỗi thôn chọn một trâu đực từ 8 đến 10 tuổi cho một chàng trai chưa vợ và khỏe mạnh chăn nuôi. Cuối tháng 7 có chọi thử chọn ra ba đôi trâu khỏe nhất để thi chọi ngày hội. Đấu trường (gióng) là khu đất trống trước đình làng Đồ Sơn. Sáng ngày hội, từng cặp trâu thi có vải che mắt được trịnh trọng rước vào gióng trong tiếng trống thúc liên hồi. Bỏ vải che mắt ra, chúng bắt đầu chọi nhau giữa tiếng reo hò ầm ĩ của nhiều ngàn khán giả. Làng nào có trâu thắng sẽ được thưởng. Nhưng được hay thua tất cả đều biọ mổ thịt tế thần, tế xong thịt được chia cho cả ba làng và những người có công nuôi trâu. Đây là lễ hội vừa đề cao tinh thần thượng võ vừa khuyến khích tài năng chăn nuôi con vật có ích của nghề nông.

Hội Chử Đồng Tử diễn ra tại làng Yên Vinh, xã DạTrạch, huyện Châu Giang, Hải Dương, nơi có đầm Dạ Trạch. Hội gồm nhiều trò hấp dẫn như lễ dâng hương ghi nhớ công ơn vợ chồng Tiên Dung, Chử Đồng đối với dân, múa Tiên, múa Sư Tử, múa Con Đĩ đánh bồng, đấu vật, chọi gà, bắt vịt... Cái đinh của hội là đám rước kiệu Tiên Dung và Chử Đồng, một đám rước thật dài và thật trọng thể qua nhiều bờ bãi quanh làng về đến đền Dạ Trạch là một dịp để dân làng và dân vùng thưởng thức các tiết mục diễn xướng, trò chơi dân gian tiêu biểu của xứ Đông.

Hội đền Kiếp Bạc là lễ hội lớn của toàn xứ và toàn quốc, thuở xưa được đại diện của triều đình chủ trì, tổ chức tại xã Vân Yên, huyện Chí Linh, Hải Dương, để tưởng niệm anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, qua nhiều nghi lễ và trò vui mà nổi bật là lễ dâng hương trọng thể và cuộc thi bơi trãi tưng bừng, kỷ niệm cuộc thủy chiến xưa trên sông Bạch Đằng hiển hách do hai tì tướng Yết Kiêu và Dã Tượng chỉ huy. Đêm đến hàng ngàn khúc chuối cắm nến, cắm hương được thả xhống sông để tưởng niệm các chiến sĩ đội thủy quân của đức thánh Trần. Nhiều nghi lễ cúng bái, sóc thẻ, lên đồng diễn ra trong suốt mấy ngày hội không làm phai mờ tinh thần yêu nước, ghi nhớ chiến công có một không hai của quân và dân Đại Việt chống rợ Mông Cổ đã reo rắc tai họa cho nhiều dân tộc Á Âu thời Trung Cổ.

Hội Chùa Keo của xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Thái Bình, gồm hội Xuân và hội Thu. Hội Xuân mở từ mùng 4 Tết, kéo dài nhiều ngày với nhiều trò vui : thi thổi cơm, thi bắt vịt, thi ném pháo... Hội Thu diễn ra từ 13 đến rằm tháng 9 với nhiều tiết mục hấp dẫn : lễ rước kiệu thánh Không Lộ, múa vồ ếch, múa chèo cạn ban đêm, thi bơi trãi ban ngày  với sự tham gia của 8 giáp. Mỗi trãi có 24 tay đua , mặc khố, chít khăn, đua ba vòng trên khúc sông Thái Bình trước chùa.

Ở miền Bắc nhiều nơi có chùa mang tên chùa Keo nhưng nổi tiếng nhất là Chùa Keo Thái Bình với một kiệt tác của kiến trúc tôn giáo Việt Nam là tháp chuông thật đẹp đẽ, cao 12 m, gồm ba tầng treo ba quả chuông lớn nhỏ, bộ khung của tháp chuông làm bằng gỗ quí, kết cấu phức tạp, tinh vi, gồm một hệ thống cột, xà, đấu, con sơn, lan can... liên kết nhau chủ yếu bằng mộng ngầm, nâng 12 mái ngói với 12 đầu đao uốn cong như 12 cánh của một đóa sen vĩ đại đang nở.

Vùng văn hóa xứ Nam, với di tích của ba triều đại và một vùng thiên nhiên đẹp
Xứ Nam là trấn Sơn Nam xưa, vùng đất của ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nay còn di tích Hoa Lư, kinh đô của Đại Cồ Việt thời Đinh-tiền Lê, từ 968 đến 1009 trước khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long. Thành Hoa Lư với diện tích hơn 300 hecta đã giữ lại cho những nhà khảo cổ học Việt Nam hàng trăm di vật quí báu như những cột kinh Phật, những viên gạch lớn mang dòng chữ : "Giang Tây quân" hay "Đại Việt quốc quân thành chuyên", các di tích cung điện... cho phép nói đến một văn hóa Hoa Lư (thế kỷ 10) trước thời kỳ nở rộ của văn hóa Thăng Long (thế kỷ 11-18).

Ở các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Nho Quan của Ninh Bình, núi đá vôi bị xâm thực mạnh để lại giữa vùng đồng trũng một thắng cảnh "vịnh Hạ Long trên cạn". Thắng cảnh Bích Động được gọi là Nam Thiên đệ nhị động (sau chùa Hương), hang Tam Cốc và động Địch Lộngcó chùa được gọi là Nam Thiên đệ tam động, thắng cảnh núi Non Nước (Dục Thúy), nhà thờ Phát Diệm, một kiệt tác được xây dựng cuối thế kỷ 19 theo nghệ thuật kiến trúc hoàn toàn Việt Nam như một ngôi đình vĩ đại, vườn quốc gia Cúc Phương ... Tất cả đã biến tiểu vùng văn hóa Ninh Bình thành một khu vực vào loại đẹp đẽ nhất của tổ quốc.

Hà Nam-Nam Định, trước hết là quê hương của các vua Trần (1226-1400). Tại thôn Tức Mạc, xã Lộc Vương, ngoại thành Nam Định, có đền Trần gồm đền Thượng và đền Hạ. Đền Thượng thờ 14 vua và các tướng nhà Trần. Đền Hạ thờ Trần Hưng Đạo của các tướng có công đánh dẹp quân Mông-Nguyên. Quanh đó còn có đền thờ Trần Thủ Độ, Trần Quang Khải. Hội đền Trần mở ba năm một lần vào tháng 3 là một lễ hội lớn của xứ Nam.

Hội Trường Yên ở Ninh Bình được tổ chức tại đền vua Đinh Tiên Hoàng và đền vua Lê Đại Hành với nhiều trò diễn : rước rồng, cờ lau tập trận, kéo chữ, đua thuyền trên sông Hoàng Long. Hội mở từ mùng 10 đến rằm tháng 3 và kết thúc bằng trò đốt pháo bông truyền thống: các nghệ nhân pháo bông tài giỏi nhất của xứ Nam đã sáng tạo được hình ảnh vua Đinh mặc hoàng bào cưỡi rồng hiện lên rực rỡ giữa không trung. Đây là kỳ công của mỹ thuật mỹ nghệ dân gian không thấy ở các lễ hội khác.

Hội Phủ Giầy, mở từ mùng một đến mùng 10 tháng 3 tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định. Nghi thức đáng chú ý là lễ rước kiệu thánh mẫu Liễu Hạnh từ Núi Gôi về hai phủ Tiêu Hương và Vân Cát. Có thể đây là đám rước long trọng nhất, tốn kém nhất với nhiều cô gái đồng trinh đẹp đẽ có vinh dự được chọn để khiêng long đình, võng lọng, cờ quạt của Thánh Mẫu. Sau đám rước , nghi lễ lớn thứ hai là trò Kéo Chữ (xếp chữ), một trò đồng diễn thể dục công phu và đẹp mắt để xếp cho được nhiều chữ Hán mang ý nghĩa chúc tụng như " thiên hạ, thái bình " , "quốc thái, dân an " ... Hội còn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian khác như hát văn, chèo, tuồng, trống quạn, ca trù, đấu vật, kéo co, chọi gà ... Kiến trúc Phủ Giầy chưa phải là cổ kính nhưng vẫn đẹp: đây là quần thể đền đài mang dấu ấn văn hóa nhà Nguyễn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng thời với lăng Khải Định, và có qui mô hoành tráng hiếm thấy trong hệ thống hệ thống kiến trúc tôn giáo Việt Nam.

Hội vật võ Liểu Đôi, tổ chức tại làng Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, từ mùng 5 đến mùng 10 tháng giêng, là lễ hội mang tinh thần thượng võ sâu sắc và có qui mô lớn trong hệ thống lễ hội truyền thống. Hội diễn ra tại đền Thánh Ông họ Đoàn và đền Tiên Bà họ Bùi.Điều đặc biệt là tại hội vật võ này có nhiều thiếu nữ và phụ nữ cùng tham gia với đao, côn, kiếm. Lễ nổi lửa được cử hành tượng trưng cho ánh hào quang phát ra từ kiếm thần của Thánh Ông, sau đó là lễ trao gươm, lễ múa cờ tụ nghĩa, rồi hội vật bắt đầu với nghi thức và lề luật riêng của Liễu Đôi. Sau đấu vật là các cuộc thi côn, quyền, kiếm và các cuộc thi nấu các món ăn dân giã bằng lươn, ốc, ếch, cá. Lễ hội độc đáo và kỳ lạ này hàng năm thu hút đông đảo nhân dân nhiều vùng lân cận.

Trong lãnh vực ca múa nhạc dân gian, xứ Nam có một thể loại độc đáo là hát dậm Quyển Sơn, còn gọi là hát dậm Hà Nam, một hệ thống dân ca nghi lễ được trình diễn trước bàn thờ danh tướng Lý Thường Kiệt tại đền Quyển Sơn. Toàn bộ cuộc mùa hát gồm nhiều chặng được hát lên bằng nhiều làn điệu dân ca khác nhau với những tiếng đưa hơi rất cổ kính như " lê là lê lết lê lết lê la là lai hồi la ". Thể loại dân ca này chỉ dành cho nghệ nhân nữ : khi hát các cô gái xếp thành hai hàng trước bàn thờ, bà trùm đứng một mình ở giữa gõ sên đánh nhịp, các cô vừa hát vừa múa và làm động tác chèo thuyền. Sáng tạo dân gian cổ kính này còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà âm nhạc học và dân tộc học.

Vùng văn hóa xứ Bắc, nơi hội tụ hài hòa của vua chúa, tôn giáo và văn nghệ dân gian
Xứ Bắc, vùng đất của trấn Kinh Bắc xưa, của hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang nay, là một vùng văn hóa nổi tiếng của tổ quốc, nơi ghi dấu Kinh Dương Vương (lăng mộ còn tại A Lữ, Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), Lạc Long Quân (đền thờ còn tại Bình Ngô, An Binh, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), và Âu Cơ (miếu thờ còn tại A Lữ) ; cũng là nơi phát tích của triều Lý (thôn Cổ Pháp, huyện Từ Sơn) : "thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp".

Xứ Bắc có Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam quan trọng ở miền Đông Á vào đầu công nguyên thời Bắc thuộc, tương đương với hai trung tâm lớn của Phật giáo Trung Hoa cùng thời là Lạc Dương và Bình Thành.

Xứ Bắc là nơi còn lưu giữ những ngôi chùa, ngôi đình có giá trị lịch sử và nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam: chùa Dâu, Long Hàm, Lục Tổ, Phật Tích, Đức La, Tam Sơn, Vĩnh Nghiêm... ; đình Lỗ Hạnh, Thổ Hà, Phù Lưu, Phù Lão, Đình Diềm, Đình Bảng...

Xứ Bắc có nhiều làng nghề nổi tiếng : dệt tơ lụa và nhuộm (Đình Bảng), gốm, sành, sứ (Thổ Hà và Bát Tràng), đồ thêu (thị xã Bắc Ninh) cùng những đặc sản : giò chả Từ Sơn, cam Bố Hạ, cát sâm Yên Thế ...

Xứ Bắc cũng là nơi đã sáng tạo ra những đỉnh cao của văn nghệ dân gian : truyền thống ăn ngon, mặc đẹp "ăn Bắc, mặc Kinh", tranh Đông Hồ, hát Quan Họ, hội Lim... cũng là nơi nổi tiếng về truyền thống thượng võ và hiếu học. Đây là quê hương của người anh hùng làng Dóng :

"Trừ giặc còn hiềm ba tuổi đời là muộn
Cưỡi mây vẫn giận chín tầng trời chửa cao"
( Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn
Đằng vân do hận cửu thiên đê  )
                                    Cao Bá Quát

Xứ Bắc cũng là xứ sở của rất nhiều ông nghè, ông cống, tiến sĩ, trạng nguyên : "một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè ông trạng" hay "một bồ tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn"...

Nói đến vùng văn hóa xứ Bắc phải nhắc đến hai đỉnh cao của nó : hát Quan Họ và hội Lim.

Xuất xứ Kinh Bắc, có lẽ hát Quan Họ đã xuất hiện từ thời Lý thế kỷ 11 và những nghệ nhân dân gian già trẻ của 49 làng quan họ Bắc Ninh xưa nay làm chúng ta kinh ngạc và thán phục vì những canh hát thâu đêm của họ trong hội làng, trước cửa chùa, trên sườn đồi, trên mặt hồ.

Liền anh quan họ mang ô lục soạn, quấn khăn nhiễu tam giang, áo lương, quần trắng ; liền chị quan họ có nón quai thao, khăn mỏ quạ, áo mớ ba, khuyên vàng, xà tích. Trong canh hát thâu đêm suốt sáng, gái trai quan họ mời chào nhau, tâm tình với nhau bằng lời thơ tiếng hát. Họ hát đôi (đôi nữ, đôi nam) và hát đối (đối lời, đối giọng). Những đội hát gồm nhiều cặp quan họ gái và trai được đào tạo theo kiểu truyền nghề từ thế hệ già đến thế hệ trẻ. Khi " thành đôi " rồi ít khi " xé cặp " . Hát đôi được phân công người hát chính và người hát luồn. Quan họ có tới hai trăm làn điệu khác nhau ( Trần Linh Quý và Hồng Thao, Tìm hiểu dân ca quan họ, Hà Nội, 1997 ).

Hát đối quan họ  còn gọi là " nam tòng nữ " ,  là trò chơi ca nhạc cao siêu, nhất là khi thi hát.Hát quan họ luôn luôn đối giọng và đối lời. Liền chị hát bài "Mười thương" thì liền anh trả lời bằng bài "Mười nhớ", nhưng phải đúng giai điệu đó.
Làn điệu quan họ đặc sắc nhất có lẽ là bài "Giã bạn":

Người ơi, người ở đừng về
Người về em những khóc thầm
Bên song vạt áo ướt đầm như mưa
Người về em đứng trông theo
Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi
Người về em dặn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Người về em dặn lời rằng
Đâu hơn người lấy đâu bằng đợi em... 

Đỉnh cao của nghệ thuật và văn hóa quan họ là hội Lim, diễn ra tại xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, ngày và suốt đêm 13 tháng Giêng.

Hát ngoài đồi : trong ngày hội Lim các liền anh liền chị đi chơi thành từng nhóm nhỏ, bên nam chưa có bạn thì tìm bên nữ mời họ xơi trầu, nếu nữ thuận nhận trầu tức là nhận lời hát cùng với nam ; cũng có khi nữ chủ động mời nam xơi trầu trước. Trong khi hát với nhau, nếu thấy ăn ý về giọng hát và cách đối xử thì hẹn nhau đến một ngày nào đó gặp lại xin kết nghĩa (kết bạn quan họ) với nhau cho đến trọn đời.

Hát trong nhà : quan họ khách được hẹn mời từ trước, buổi sáng đến thẳng hội. Quan họ bạn  đến cổng làng Lim là hát mừng làng đầu năm mới, mứng nhà, mừng bạn. Quan họ chủ đứng ở sân hát đón khách và hát chúc mừng lại, đưa khách vào nhà, cất nón, cất ô rồi ngồi xuống giường ở hai gian bên cạnh, hoặc hai bên tràng kỷ đối diện nhau mà hát. Không nói bằng lời, tất cả diễn ra hoàn toàn bằng lời thơ, tiếng hát.

Hát trên thuyền : gái trai bơi thuyền trên ao hồ hay trên sông Làng Bịu (bên cạnh làng Lim) mà hát đối đáp.

Hội Lim là hội giao duyên thi tài của gái lịch trai thanh. Điều thú vị là theo phong tục sở tại, gái trai quan họ đã kết nghĩa với nhau thì không lấy nhau, nhưng gái có chồng và trai có vợ vẫn có thể kết nghĩa và hát với nhau trọn đời, không hề có chuyện ghen tuông, mặc dầu những bài hát quan họ chứa đầy chất thơ lãng mạn của tâm hồn. Họ như là những diễn viên trên một sân khấu tình yêu lý tưởng, hát xong ai về nhà nấy để mà thương mà nhớ. Thực là một phong tục văn nghệ, một văn hóa tình cảm ít thấy trên quả đất này.


Tác giả bài viết: HG sưu tầm

Nguồn tin: Internet

Chia sẻ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin tức

Đào tạo